Đề tài 25: Thư gửi giáo đoàn Thêxalônica
Đề tài 26: Gương mặt của giáo đoàn Thêxalônica
CHƯƠNG II
ĐẶC THÁI, KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG THƯ THỨ I GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Đề tài 27: Kết cấu và nội dung thư thứ I gửi giáo đoàn Thêxalônica
Đề tài 28: Nội dung phần hai thư thứ I gửi giáo đoàn Thêxalônica
Đề tài 29: Hình thức cũ, tinh thần và nội dung mới
CHƯƠNG III
CÁC MẤU ĐIỂM THẦN HỌC NỔI BẬT TRONG THƯ THỨ I GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Đề tài 30: Tâm tình cảm tạ
Đề tài 31: Sự tuyển chọn nhưng không
Đề tài 32: Cuộc sống thánh thiện và yêu thương huynh đệ
Đề tài 33: Tỉnh táo đợi chờ Chúa đến
Đề tài 34: Sức lớn mạnh của cộng đoàn kitô Thêxalônica
CHƯƠNG IV
TÁC GIẢ, KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG THƯ THỨ II GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Đề tài 35: Những vấn nạn trong thứ thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica
Đề tài 36: Ai là tác giả thư thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica?
Đề tài 37: Kết cấu và nội dung thư thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica
CHƯƠNG V
SỨ ĐIỆP THẦN HỌC THƯ THỨ II GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Đề tài 38: Tính sổ đời trong ngày sau hết
Đề tài 39: Ngày Chúa đến quy tụ và hiệp nhất tín hữu
Đề tài 40: Các dấu chỉ báo trước ngày thế mạt
Đề tài 41: Lao động như một phần của ơn gọi làm người
CHƯƠNG I
BỐI CẢNH VÀ GƯƠNG MẶT GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
ĐỀ TÀI 25: HƯ GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Cho tới thời gian gần đây giới học giả Kinh Thánh Tân Ước đều tin rằng thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica là tài liệu cổ xưa nhất trong các tác phẩm của Kinh Thánh Tân Ước. Lý do là vì nó được thánh Phaolô viết giữa các năm 50-51, tức 20 năm sau khi Đức Giêsu Kitô tử nạn và phục sinh. Tuy nhiên, nếu lập trường của học giả Jean Carmignac và John O'Callagan đúng, thì giờ đây phải nói rằng Phúc âm thánh Marcô được biên soạn ra giữa các năm 43-50 là tác phẩm cổ xưa nhất trong Kinh Thánh Tân Ước. Dầu sao đi nữa, thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica cũng là một tài liệu và là một chứng từ vô cùng qúy báu, vì nó cung cấp cho chúng ta các yếu tố gía trị giúp nhận ra một số đường nét chính trong gương mặt của các cộng đoàn kitô tiên khởi. Thật thế, thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica tuy gián tiếp cho biết tin tức liên quan đến giáo đoàn này, nhưng lại phản ánh một cách trực tiếp các kiểu diễn tả nòng cốt của lòng tin kitô thời đó. Nó cho thấy các tông đồ đã theo cùng một lược đồ loan báo Tin Mừng cứu độ trong Giáo Hội thời khai sinh, và việc tin nhận Tin Mừng cũng như gia nhập Giáo Hội của các tín hữu đã dựa trên cùng một nền tảng các đòi buộc được xác định một lần cho luôn mãi.
Ngoài ra thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica còn cho thấy thánh Phaolô không tự giới thiệu mình như là một bậc thầy, sư phụ thành lập các tôn giáo hay trường phái triết lý, nhưng thánh nhân tự giới thiệu mình như là người loan báo sứ điệp cứu độ. Tin Mừng cứu độ đó đã vang vọng lần đầu tiên tại Giêrusalem bằng tiếng Aramây, rồi được loan báo bằng tiếng Hy lạp tại Antiokia bên Siria, nơi thánh Phaolô đã trưởng thành trong ơn gọi kitô và truyền giáo.
Đàng khác thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica cũng cho chúng ta thấy bản thảo đầu tiên, tuy chưa đầy đủ nhưng rất ý nghĩa liên quan tới các đề tài, mà thánh Phaolô sẽ thảo luận và khai triển một cách sâu rộng sau này trong các thư của ngài. Do đó khi so sánh một đề tài như được khai triển trong các thư, chúng ta có thể nhận ra tiến trình phát triển trong tư tưởng sáng tạo và phong phú của thánh nhân trước các tình trạng sống và các vấn đề mới thường xuyên nảy sinh trong cùng một cộng đoàn hay trong các cộng đoàn khác nhau. Thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica cũng cho thấy gương mặt của một Phaolô hăng say hướng về biến cồ Chúa Kitô quang lâm, để kết thúc lịch sử thế giới hiện tại và khai mào lịch sử thế giới của cộng đoàn tương lai, trong đó loài người được sống kết hiệp với Thiên Chúa Cha và với Con của Ngài đã phục sinh. Tuy nhiên chẳng bao lâu sau đó thánh nhân chuyển hướng tư tưởng: từ thái độ nôn nóng đợi chờ Phaolô nêu bật thái độ đúng đắn của lòng tin kitô là sống tràn đầy giây phút hiện tại, trong đợi chờ, nhưng đồng thời và nhất là trong tin yêu phó thác. Khi biết sống tràn đầy hiện tại là tín hữu đã nếm hưởng được phần nào thực tại của ơn cứu độ mai sau rồi.
Dầu sao đi nữa, thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica cũng cho phép chúng ta nhận thấy thánh Phaolô luôn luôn chung nhịp với cuộc sống hồi hộp phấn khởi của cộng đoàn kitô, mà thánh nhân muốn đối thoại trong thư. Các thư của thánh nhân không phải là các tác phẩm được viết ra từ bàn giấy, xa cách thực tại sống của các tín hữu, cũng không phải là các khảo luận trừu tượng của các tư tưởng gia sống lẻ loi trong thế giới riêng rẽ của mình, mà là các trao đổi kinh nghiệm phong phú của lòng tin với các nhân vật cụ thể, có các vấn đề và các âu lo khắc khoải cần được giải quyết. Thật vậy, tuy ở xa họ trong không gian nhưng Phaolô đối thoại trực tiếp với các tín hữu. Cuộc đối thoại qua thư tín này tiếp tục các buổi giảng dậy diện đối diện trước đây, khi thánh nhân còn sống giữa họ, loan báo Tin Mừng cứu độ cho họ và dậy dỗ họ. Các từ ngữ cũng như kiểu diễn tả và giọng điệu đầm ấm trong các thư không cho phép chúng ta kết luận rằng các thư ngài viết trình bầy các lý thuyết trừu tượng, lạnh lùng, xa vắng. Trái lại chúng chứng minh cho thấy tính chất cấp thời, và là chìa khóa giúp đọc hiểu và đi sâu vào cuộc sống của các tín hữu trong Giáo Hội thời khai sinh. Phaolô sát cánh kề vai sống kinh nghiệm lòng tin sốt dẻo đó với các tín hữu của nình, thuộc các nhóm thiểu số sống rải rác trong thế giới rộng lớn đa diện của một số thành phố lớn trong đế quốc Roma hồi thế kỷ thứ I.
Các tài liệu khác nhau, đặc biệt là sách Công Vụ, cho chúng ta biết cộng đoàn Thêxalônica đã khai sinh vào năm 50. Hồi đó Phaolô đã cùng Silvano và Timoteo vượt biên giới Tiểu Á vào giảng đạo tại vùng Macedonia thuộc đế quốc Roma. Để nêu bật tầm quan trọng sự hiện diện của đoàn truyền giáo từ Siria tức vùng Tiểu Á sang rao truyền Tin Mừng tại Maceđonia tức châu Âu, sách Công Vụ đã nhắc tới một thị kiến. Trong chương 16,9-10 thánh sử Luca kể lại rằng trong thị kiến Phaolô trông thấy một người vùng Maceđonia mời thánh nhân đến rao truyền Tin Mừng cứu độ trong quê hương của ông. Phaolô coi đó là dấu chỉ Chúa muốn cho ngài đến truyền giáo trong vùng này. Thật ra, mọi chặng trong tiến trình truyền giáo trên thế giới đều được Thiên Chúa hướng dẫn. Và thế là Phaolô cùng các bạn đồng hành sang Maceđonia. Chỉ sau mấy ngày rao giảng các vị thành lập được một cộng đoàn nhỏ tại thành phố Philiphê, là thành phố lớn vùng Maceđonia. Nhưng chẳng bao lâu sau đó Phaolô và các cộng sự viên phải rời thành phố này, vì bị vu khống là gây rối loạn và truyền bá các thói tục chống lại người Roma. Hai vị bị bắt, bị đánh đòn và tống ngục, rồi sau đó được yêu cầu rời khỏi thành phố. Biến cố này được thánh Luca tường thuật tỉ mỉ trong chương 16,11-40 sách Công Vụ. Thánh Phaolô cũng nhắc tới nó trong chương 2,2 thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica.
Rời Philiphê thánh Phaolô và các bạn đồng hành tới Thêxalônica, thủ phủ của vùng Maceđonia. Thành phố này được tướng Cassandro thành lập hồi năm 315 trước Công nguyên, và lấy tên vợ là Thessalonike, tức em gái của Aláchxăng Đại Đế đặt cho thành phố mới. Kiểu tổ chức xã hội và chính trị tại Thêxalônica cũng giống như trong các thành phố hy lạp khác thời bấy giờ. Phải nói rằng Thêxalônica là trung tâm thương mại phồn thịnh bậc nhất hồi thế kỷ thứ I, vì là thành phố cảng nằm cạnh bờ biển Egeo, và trên con lộ Egnatia phía tây nối liền với Italia và phía đông nối liền với vùng Bosforo. Trên bình diện tôn giáo Thêxalônica nổi tiếng vì sự hiện diện của nhiều tôn giáo khác nhau. Bên cạnh các thần của người Roma được chính quyền tôn sùng, còn có các thần địa phương của vùng Tracia và các tôn giáo huyền bí du nhập từ Ai Cập và Tiểu Á. Công tác truyền giáo của thánh Phaolô và các thừa sai gặt hái nhiều kết qủa trong thành phố lớn này. Các vị đặt nền cho một cộng đoàn kitô như thánh Luca kể lại trong chương 17,14 sách Công Vụ, và thánh Phaolô nhắc lại cho tín hữu Thêxalônica biết trong chương 2,1-16 thư thứ nhất gửi cho họ. Tuy nhiên, thánh Phaolô và các cộng sự viên cũng không ở lại lâu trong cộng đoàn kitô mới thành lập, vì gặp sự thù nghịch và sức chống đối mãnh liệt, đặc biệt của cộng đoàn do thái sống tại đây (Cv 17,5-10).
Để có cớ vu khống Phaolô và các cộng sự viên, người do thái thuê bọn du đãng quấy phá và gây rối loạn trong thành phố, rồi xông tới nhà Giason tính bắt hai vị. Nhưng không tìm thấy các vị, họ nổi giận bắt Giason và điệu đến trước mặt chính quyền địa phương, vu khống cho tội gây náo động khắp thế giới và đến thành Thêxalônica để tiếp tục gây rối, chống đối sắc lệnh của nhà vua và tuyên truyền rằng có một vua khác là Giêsu. Sau khi bắt nộp tiền thế chân, giới lãnh đạo trả tự do cho Giason và mấy tín hữu khác. Ngay trong đêm hôm đó tín hữu cộng đoàn đưa Phaolô và Sila rời khỏi thành phố sang Berea. Thế là thánh Phaolô và cộng sự viên Sila bắt buộc phải bỏ giáo đoàn trẻ Thêxalônica mới thành lập. Trình thuật truyền giáo trong sách Công Vụ, chương 17,10-18,17 cho biết thánh Phaolô sang truyền giáo tại Berea, rồi Athènes và Côrintô. Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica thánh Phaolô cũng nhắc lại cho tín hữu biết người do thái đã theo sang Berea chống đối và quấy phá công cuộc truyền giáo, nên thánh nhân đành để Timôtêô và Sila ở lại đây rồi một mình đi Athènes và Côrintô rao giảng Tin Mừng.
Vì bất đắc dĩ phải rời giáo đoàn Thêxalônica trong tình trạng căng thẳng và khó khăn như thế, nên thánh Phaolô không an lòng. Một mặt các kitô hữu mới theo đạo bị các người do thái sách nhiễu (1 Ts 2,14), mặt khác lại không có ai tiếp tục giảng giải giáo lý và giúp họ đào sâu sự hiểu biết và trưởng thành trong lòng tin. Thánh Phaolô sợ các khó khăn thử thách khiến họ ngã lòng bỏ đạo. Thánh nhân lại không thể tới thăm họ được, vì bị Satan cản ngăn. Đây là kiểu nói quy ước. Thật ra, lý do chính là vì thánh nhân bị nhóm do thái đối nghịch theo dõi rất sát, khó có thể qua mặt họ được. Do đó từ Athènes thánh Phaolô mới gửi Timôtêô về thăm giáo đoàn thay ngài (1 Ts 3,1-2). Trong khi đó vì không thành công trong công tác loan báo Tin Mừng tại Athènes, nên Phaolô và Silvano đã đi Côrintô. Chính tại đây thánh nhân gặp lại Timôtêô từ Thêxalônica trở về cho tin tức. Tín hữu giáo đoàn Thêxalônica chẳng những kiên trì trong lòng tin, mà còn sống đạo mạnh mẽ nữa. Phaolô như người chết sống lại. Mọi âu lo khắc khoải đều tan biến hết, nhường chỗ cho niềm vui khôn tả. Thánh nhân cám tạ ơn Chúa vô vàn vì đã gìn giữ các tín hữu Thêxalônica. Thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica đã nảy sinh trong bối cảnh ấy.
ĐỀ TÀI 26: GƯƠNG MẶT CỦA GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Cùng với chương 17,1-10 sách Công Vụ, thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica là tài liệu qúy báu giúp chúng ta hình dung ra gương mặt của giáo đoàn trẻ Thêxalônica, mà thánh Phaolô đã phải từ giã, một thời gian ngắn sau khi thành lập. Chương 16,2 sách Công Vụ nói là sau ba tuần. Nhưng có lẽ thời gian lưu lại Thêxalônica đã lâu hơn, vì chương 4,16 thư gửi tín hữu Philiphê cho chúng ta biết là thánh Phaolô và các cộng sự viên đã hai lần nhận được viện trợ từ Philiphê, là thành phố nằm cách Thêxalônica 150 cây số.
Trước hết giáo đoàn Thêxalônica gồm các tín hữu không do thái theo Kitô (1,9), nghĩa là một cộng đoàn khác với các cộng đoàn gồm các tín hữu gốc do thái theo Kitô như cộng đoàn Giêrusalem và các cộng đoàn hỗn hợp gồm các anh chị em do thái và không do thái theo đạo, như trường hợp cộng đoàn Antiochia bên Siri. Các tín hữu Thêxalônica vừa tin nhận Thiên Chúa duy nhất như đã được tín hữu do thái tuyên xưng, vừa tin nhận Đức Giêsu Kitô Đấng đã chết và sống lại là Con của Ngài. Nghĩa là họ tin nhận tôn giáo độc thần và lòng tin Kitô (1,9-10). Lòng tin vào Chúa Giêsu Kitô tử nạn và phục sinh được minh xác qua các công thức tuyên xưng lòng tin được thánh Phaolô lập đi lập lại trong thư chẳng hạn như: ”Nếu Đức Giêsu đã chết và đã sống lại và chúng ta tin Ngài...” (4,14), hay ”Ngài đã chết cho chúng ta...”(5,10), hoặc ”...chờ đợi Con của Chúa từ trời xuống, Đấng Thiên Chúa đã cho sống lại từ kẻ chết” (1,10).
Tuy nhiên trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica thánh Phaolô đã nhấn mạnh tới biến cố Chúa Kitô quang lâm để cứu rỗi các tín hữu. Chương 1,9-10 là kiểu tóm tắt kiểu cách rao giảng Tin Mừng chung trong thời Giáo hội khai sinh: ”Ai nấy đều nhắc tới cách thức anh chị em đã đón tiếp chúng tôi và thuật lại việc anh chị em đã mau mắn từ bỏ các tà thần để quay về thờ phượng Thiên Chúa hằng sống và chân thật như thế nào, cũng như đợi chờ Con của Ngài từ trời xuống, Đấng đã được Ngài cho sống lại từ kẻ chết, là Đức Giêsu Đấng giải thoát chúng ta khỏi cơn thịnh nộ gần kề”. Ở đây kinh nghiệm kitô được định nghĩa như là việc chờ đợi Chúa Giêsu trở lại vào ngày sau hết. Tín hữu hướng cái nhìn của minh về tương lai. Như thế có thể định nghĩa cuộc sống của tín hữu trong cộng đoàn Thêxalônica như là hy vọng vào ơn cứu độ mai sau. Trên thực tế họ đợi chờ Chúa Kitô từ trời xuống để đem họ lên theo về thế giới thiên linh của Thiên Chúa. Cũng chính vì thế hánh Phaolô mới viết trong chương 4,16-17: ”Vì khi hiệu lệnh được ban ra, và tỗng lãnh thiên thần lên tiếng, cùng với tiếng kèn của Thiên Chúa trổi vang, thì chính Chúa Kitô sẽ từ trời xuống: Khi đó những kẻ đã chết trong Chúa Kitô sẽ sống lại trước tiên. Tiếp đến là chúng ta, những người còn sống sót, chúng ta sẽ được cất nhắc lên với họ trên các tầng mây để gặp Chúa trên không trung và như thế chúng ta sẽ sống với Chúa luôn mãi”.
Qua đó chúng ta nhận ra thái độ trông chờ nôn nóng thái qúa của tín hữu Thêxalônica. Mọi người đều nghĩ rằng biến cố Chúa Giêsu Kitô quang lâm rất gần kề, nên nhiều tín hữu, kể cả thánh Phaolô nữa cũng tin rằng mình sẽ còn sống cho tới lúc ấy và tham dự vào biến cố cứu độ trọng đại này. Có thể họ đã nghĩ rằng vì Chúa Giêsu Kitô đã phục sinh vinh hiển và chiến thắng cái chết, nên Ngài cũng sẽ miễn cho họ khỏi phải sống kinh nghiệm khủng khiếp này của cái chết. Cũng giống như ông Enoc, tổ phụ thời tiền lụt hồng thủy và ngôn sứ Elia, là những người đã được Thiên Chúa ban ơn đặc biệt cho trực tiếp bước vào thế giới thiên quốc, mà không phải sống kinh nghiệm cái chết và sự rữa nát của thân xác (St 5,24; 2 V 2,1-11), các kitô hữu Thêxalônica nghĩ rằng họ cũng sẽ được trực tiếp từ trần gian bước vào căn nhà trên trời. Ơn cứu rỗi chính là sự kiện được bước vào cuộc sống hạnh phúc thiên quốc ấy. Và đó là nỗi niềm mong ước nồng cháy của cộng đoàn kitô thời bấy giờ.
Phải nói ngay rằng chẳng bao lâu sau đó các sự kiện cụ thể đã giúp tín hữu Thêxalônica và cả thánh Phaolô nữa nhận ra cái ngây thơ và hão huyền của sự hy vọng này. Tuy nhiên, thái độ nôn nóng trông chờ biến cố Chúa Giêsu Kitô trở lại phán xét trần gian đó đã ảnh hưởng trên cung cách sống thường ngày của các tín hữu. Một số người vì qúa tin chắc là chẳng bao lâu nữa Chúa Kitô sẽ quang lâm, nên họ khoanh tay chờ đợi, bỏ bê công ăn việc làm, lơ là bổn phận thường ngày, mọi việc trần gian khác và gây hang mang lo lắng cho người khác. Do đó trong thư thánh Phaolô đã phải khuyên các anh chị em này bình tĩnh trở lại và tiếp tục chu toàn các công việc và bổn phận thường ngày (4,11). Thật ra ngoài một số người kể trên, tín hữu cộng đoàn Thêxalônica sống rất can đảm và dấn thân. Chính thánh Phaolô cũng đã phải công nhận rằng lòng tin của tín hữu trong cộng đoàn thể hiện ra trong cuộc sống cụ thể. Tình yêu thương đối với Thiên Chúa được tín hữu Thêxalônica diễn tả bằng các công tác liên đới trợ giúp. Và mặc dù phải sống trong một hoàn cảnh đầy đối nghịch, khó khăn, bất trắc và đe dọa, họ vẫn kiên trì đợi chờ ngày Chúa đến (1,3). Càng gặp thử thách khó khăn bao nhiêu họ lại càng gắn bó và bám chặt vào Chúa bấy nhiêu, đến nêu gương sáng cho tín hữu mọi giáo đoàn khác (1,7).
Trên bình diện luân lý, nội dung thư gửi tín hữu Thêxalônica hé mở cho thấy môi trường xã hội Thêxalônica có các đòi buộc nghiêm chỉnh và dân chúng rất hướng về các gía trị tinh thần. Thánh Phaolô không ghi nhận trường hợp bất thường nào trong cuộc sống của tín hữu. Ngài chỉ muốn củng cố con đường lòng tin mà các tín hữu đã bắt đầu với ngài (4,1). Đặc biệt thánh nhân muốn khuyên nhủ tín hữu dấn thân sống đời sống thánh thiện, xa lánh sự dữ và tội lỗi, để luôn luôn sẵn sàng gặp Chúa Giêsu Kitô, khi Ngài quang lâm. Nói cách khác, Phaolô khuyên tín hữu phải sống làm sao để đừng đánh mất ơn cứu độ trong ngày cuối cùng của Chúa (5,4). Thí dụ ngài viết trong chương 5 câu 23 như sau: ”Ước chi Thiên Chúa của hòa bình thánh hóa anh chị em hoàn toàn, và ước chi tinh thần, linh hồn và thân xác của anh chị em được giữ gìn trọn vẹn để anh chị em không thể bị trách cứ gì khi Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta đến”
Liên quan tới nội dung các giáo huấn luân lý đạo đức thánh Phaolô chỉ đưa ra các lời kêu gọi chung chung khiến chúng ta liên tưởng tới các đề tài và lược đồ thuộc truyền thống do thái nổi tiếng là có gía trị luân lý cao với các đòi buộc nghiêm ngặt. Nhưng các điểm này không diễn tả sắc thài đặc thù của các cộng đoàn kitô tiên khởi. Tuy nhiên cần xác định rằng các đòi buộc luân lý mà thánh Phaolô và các thừa sai đề ra cho các tín hữu ngoại giáo Thêxalônica theo Kitô, cũng đã là một lý trởng luân lý cao, so sánh với thói tục sống buông thả trước kia của họ.
Chúng ta không có nhiều tin tức giúp hiểu biết kiểu cách tổ chức nội bộ của cộng đoàn kitô Thêxalônica. Trong thư thứ nhất thánh Paholô chỉ nói tới một vài tín hữu chú ý tới các anh chị em khác và cố gắng khuyến cáo họ khi có chuyện gì cần nói. Họ là các thủ lãnh tự phát, được cộng đoàn thừa nhận vì các nỗ lực dấn thân và vì khả năng của họ, chứ không phải là một quyền bính được thành lập theo nguyên tắc. Thánh Phaolô cũng khuyên tín hữu tôn trọng và qúy mến họ, không dựa trên một quyền hợp hiến nhưng là vì các dấn thân và công việc ích lợi mà họ làm cho cộng đoàn. Phaolô viết trong chương 5,12-13: ”Thưa anh chị em, chúng tôi xin anh chị em hãy qúy trọng các người giữa anh chị em đã lao nhọc trong việc hướng dẫn anh chị em trong Chúa và sửa dạy anh chị em. Hãy hết lòng kính trọng họ với tình yêu thương vì công việc họ làm. Và hay sống hòa bình với nhau”. Những gì thánh Phaolô viết trên đây cho thấy các vị lãnh đạo cộng đoàn ấy gồm nhiều người theo kiểu các người lãnh đạo có đặc sủng, chứ không phải chỉ là một vị lãnh đạo được chính thức cắt đặt cai quản cộng đoàn. Nói cách khác, trong cộng đoàn kitô Thêxalônica đã có các tín hữu có khả năng, tình nguyện và có sáng kiến đứng ra đảm lãnh trách nhiệm phục vụ cộng đoàn.
Trên bình diện đối ngoại, thư thánh Phaolô cho chúng ta biết các tín hữu kitô Thêxalônica phải sống trong môi trường thù nghịch với họ. Thánh Phaolô không ngần ngại so sánh tình trạng sống của giáo đoàn Thêxalônica với con đường thập gía của các cộng đoàn bên Palestine (2,4). Tuy thánh Phaolô không bao giờ nói tới việc bắt đạo, nhưng sự kiện ngài nêu bật các khó khăn và đối kháng do người do thái gây ra cho các tín hữu của giáo đoàn trẻ này, khiến cho chúng ta có thể kết luận là quả thật tín hữu đã bị sách nhiễu. Cũng có thể nói thêm rằng người do thái sống tại Thêxalônica còn xúi dục dân ngoại chống đối nhóm tín hữu kitô. Dẫu thế nào đi nữa, vì lựa chọn theo Chúa Kitô và sống lòng tin của mình, nhóm kitô hữu Thêxalônica phải sống trong hoàn cảnh bị cô lập hóa.
Chúng ta cũng không có tin tức chính xác liên quan tới chân dung của các thành phần tín hữu thuộc cộng đoàn Thêxalônica. Theo chương 17,4 sách Công Vụ trong các tín hữu có một số phụ nữ thuộc lớp thượng lưu. Nhưng vì tác phả của thánh Luca có mục đích bênh vực Kitô giáo, nên khó mà biết chắc tin trên là tin có thực hay chỉ lá một kiểu quảng cáo cho giáo đoàn này. Dựa trên lời thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu hãy làm việc để có cơm bánh, hãy làm việc để mưu sinh chứ đừng ăn không ngồi rỗi, chúng ta có thể khẳng định rằng các tín hữu là giới công nhân lao động (4,11). Vào thời đó giới lao động gồm các nô lệ, phu khuân vác tại bến cảng Thêxalônica, và gới tiểu công nghệ. Qua đó chúng ta có thể hình dung ra các thành phần cộng đoàn. Đa số họ là dân lao động thuộc giai tầng thấp kém trong xã hội.
CHƯƠNG II
ĐẶC THÁI, KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG THƯ THỨ I GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
ĐỀ TÀI 27:KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG THƯ THỨ I GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Khi đọc thư thứ I gửi giáo đoàn Thêxalônica, chúng ta nhận ra ngay kết cấu của thư, gồm hai phần. Phần nhứ nhất gồm ba chương đầu có nội dung là các lời cảm tạ ngợi khen Thiên Chúa. Phần thứ hai gồm hai chương còn lại bao gồm các lời khích lệ khuyên nhủ tín hữu.
Bình thường thánh Phaolô bắt đầu các thư của ngài với lời đội ơn Thiên Chúa. Nhưng trong thư thứ I gửi giáo đoàn Thêxalônica, lời cám tạ ngợi khen ấy được khai triển và kéo dài làm thành đề tài chính của trọn phần đầu bưc thư. Lời cám tạ trở thành một thứ điệp khúc được thánh nhân lập đi lập lại: ”Chúng tôi không ngừng cám tạ Thiên Chúa cho anh chị em tất cả, và luôn luôn nhớ tới anh chị em trong lời cầu nguyện của chúng tôi” (1,2). ”Đấy là lý do tại sao chúng tôi không ngừng đội ơn Thiên Chúa” (2.13). ”Chúng tôi phải tạ ơn Thiên Chúa thế nào để đáp trả lại tất cả niềm vui mà nhờ công lao của anh chị em chúng tôi được nếm hưởng trước mặt Thiên Chúa chúng ta?” (3,9).
Chính thực tại sống lòng tin tuyệt diệu của tín hữu giáo đoàn Thêxalônica là lý do khiến thánh nhân không ngừng cảm tạ ngợi khen Thiên Chúa. Phải sống trong muôn ngàn khó khăn thử thách giữa một môi trường ngoại giáo đối nghịch với kitô hữu như thế, mà anh chị em Thêxalônica vẫn kiên vững sống lòng tin, lòng mến và lòng cậy một cách cụ thể, không hề suy yếu chuyển lay, thì qủa thật là một ơn trọng đại chỉ có Chúa mới có thể ban cho giáo đoàn. Họ qủa thật là những người được Thiên Chúa tuyển chọn. Tình yêu thương nhưng không của Thiên Chúa Cha tỏ lộ rõ ràng nơi họ. Ngài là Đấng đã lựa chọn để cho họ sống kinh nghiệm sự hiệp thông với Ngài và với các tín hữu kitô khác, trong khi đợi chờ ngày cánh chung. Nếu không vậy thì làm sao có thể giải thích được thái độ tín hữu Thêxalônica tin nhận và đáp trả lại lời kêu mời của Chúa mạnh mẽ như thế? Ngoài ra tin họ theo đạo được mọi người đồn thổi khắp nước Hy Lạp và trở thành một kiểu quảng cáo hữu hiệu cho công tác truyền giáo. Tất cả mọi sự kiện đó không thể xảy ra nếu không có bàn tay can thiệp của Thiên Chúa từ nhân. Chính vì thế thánh Phaolô vô vàn cảm tạ Chúa.
Tuy nhiên, Phaolô không chỉ hài lòng kể ra các lý do khiến thánh nhân luôn biết ơn cám tạ Chúa. Phaolô còn duyệt xét lại các biến cố đã khiến cho ngài gắn bó với các tín hữu Thêxalônica. Thánh nhân gợi lại các biến cố với tâm tình chia sẻ cảm động và nhất là với lòng biết ơn sâu thẳm đối với Thiên Chúa, là Đấng đã hướng dẫn mọi sinh hoạt truyền giáo của ngài. Có định nghĩa đây là một ”cử chỉ tạ ơn” thật cũng không qúa đáng. Trong nhãn quan lòng tin và tâm tình cám mến đó sự kiện Phaolô và các cộng sự viên bị đuổi khỏi thành phố Philiphê trở thành dịp cho ngài tới rao truyền Tin Mừng tại Thêxalônica và gặp gỡ tín hữu Thêxalônica. Một biến cố tự nó là tiêu cực có thể được Thiên Chúa biến trở thành tích cực để mưu ích lợi cho phần rỗi của con người. Đang truyền giáo tại Philiphê thì bị đuổi: đó là một thất bại cho Phaolô và các cộng sự viên của ngài. Nhưng nhờ thế Phaolô và các thừa sai mới sang Thêxalônica. Và sự hiện diện của các vị tại thành phố này không phải là vô ích. Sự thất bại nhục nhã ê chề tại Philiphê khiến cho Phaolô và các cộng sự viên càng trông cậy tín thác nơi Thiên Chúa hơn. Do đó cho dù có lại gặp khó khăn thử thách tại Thêxalônica, các vị vẫn cậy trông giảng dậy với tất cả thiện tâm của mình. Thánh nhân đã ra sức rao truyền Tin Mừng của Chúa cho họ với tất cả ý hướng tốt lành, vô vị lợi và lòng hy sinh xả kỷ.
Phaolô và các cộng sự viên ý thức được sứ mệnh của các vị là loan báo Tin Mừng cứu độ của Chúa, chứ không phải giảng dậy cốt ý làm đẹp lòng người đời hay hàng lãnh đạo trần gian, lại càng không phải để phỉnh nịnh ai hay tìm tư lợi. Các vị cũng không tìm hư danh từ bất cứ thành phần xã hội nào khác, kể cả các tín hữu. Các thừa sai cũng không đòi hỏi quyền được cung phụng và trợ giúp vật chất hay tài chánh, mặc dù việc các tín hữu lo lắng của ăn thức uống và nơi chốn ngủ nghỉ cho các thừa sai là thói quen thông thường của xã hội thời đó. Thay vì đòi hỏi được chu cấp và trọng đãi Phaolô và các cộng sự viên đã phải cố gắng tự lực mưu sinh, cần cù làm việc ngày đêm để có phương tiện nuôi thân, mà không phải phiền lụy tới các tín hữu và trở thành gánh nặng cho họ. Thế rồi ngoài việc giảng dậy Tin Mừng cứu độ một cách hoàn toàn nhưng không, Phaolô và các cộng sự viên còn nêu gương sống đơn sơ, khiêm tốn, và rất mực yêu thương, chú ý tới các tín hữu. Không có chuyện quan liêu, hách dịch, bao cấp, trịch thượng và đòi hỏi. Lại càng không có chuyện ”cả vú lấp miệng em”, mắng mỏ, đánh đập, hất hủi và đối xử hạ cấp. Trái lại, các vị có cung cách cư xử rất trân trọng đối với tín hữu, âu yếm, hiền dịu và chân thành với họ như cha mẹ lo lắng cho con cái nhỏ dại. Đặc biệt các vị không ngừng khuyên bảo, an ủi và nài xin các tín hữu sống xứng đáng với Thiên Chúa, Đấng đã gọi họ vào Nước của Ngài để hưởng vinh quang bất diệt. Qua những lời lẽ tâm sự chân tình ấy, thánh Phaolô cho chúng ta thấy cả một tinh thần tu đức truyền giáo và đường lối sư phạm truyền giáo, mà hàng giáo sĩ tu sĩ và các người có nhiệm vụ rao truyền Tin Mừng thuộc mọi thời đại phải năng để tâm suy gẫm (2,1-16).
Thái độ của tín hữu Thêxalônica vui mừng tiếp nhận Tin Mừng giữa mọi chống đối khó khăn của môi trường ngoại giáo trở thành kỷ niệm không bao giờ phai nhòa trong ký ức Phaolô. Tất cả trở thành nguồn hứng khởi khiến Phaolô xúc động cám tạ đội ơn Thiên Chúa, là Đấng đã ban cho thánh nhân ơn hăng say rao giảng Tin Mừng và cho tín hữu lòng nhiệt thành tiếp nhận Tin Vui cứu độ. Từ đó nảy sinh một giáo đoàn kitô sống động đích thực tại Thêxalônica .
Biến cố Phaolô phải bất thình lình xa rời cộng đoàn mới thành hình chưa được bao lâu lại càng in nét sâu đậm trong ký ức Phaolô hơn nữa (2,17-3,10). Thánh nhân khắc khoải muốn gặp lại các tín hữu, nhưng việc trở lại Thêxalônica gặp qúa nhiều chướng ngại không vượt thắng được. Bên cạnh nỗi nhớ thương đó là sự âu lo cho số phận của họ, phải đương đầu với mọi đối nghịch của môi trường xã hội chung quanh. Phaolô sợ các tín hữu mới theo đạo chán nản ngã lòng trước các bắt bớ và chèn ép đó. Sau cùng, khi không biết làm sao hơn, thánh nhân gửi cộng sự viên của mình là Timôtêô về Thêxalônica thăm tín hữu giáo đoàn thay ngài, xem tình hình giáo đoàn ra sao. Khi Timôtêô trở lại cho biết chẳng những tín hữu kiên trì trong mọi thử thách mà còn sống đạo hăng say sốt mến, nêu gương cho mọi người gần xa và luôn ghi nhớ công lao vị tông đồ đã đem Tin Mừng cứu độ tới cho họ và không nề quản yêu thương, hy sinh, xả kỷ, săn sóc họ như người mẹ săn sóc con thơ (2,7), như người cha lo lắng cho con cái (2,11), thánh Phaolô vui mừng qúa đỗi, không tìm ra lời nào để tạ ơn Thiên Chúa nữa (3,9). Và thánh nhân kết thúc phần thứ nhất của thư với hai lời khẩn cầu, nài xin Thiên Chúa san bằng mọi khó khăn chướng ngại trên con đường dẫn tới Thêxalônica, để thánh nhân có thể tới viếng thăm họ, và xin Chúa luôn trợ giúp các tín hữu Thêxalônica rất thân mến của ngài lớn lên trong tình yêu thương và có cung cách sống không thể chê trách vào đâu được (3,11-13).
Xét trên bình diện hình thức chúng ta nhận thấy kiểu nói sóng đôi ”chúngtôi - anh chị em”, làm thành hai trục của ký ức nói trên. Đây là một lịch sử được dệt từ hai mặt: một phía là thánh Phaolô và các thừa sai cộng sự viên, phía kia là các tín hữu của cộng đoàn Thêxalônica. Chiếc thoi giao thoa đó chạy rất nhanh trong chương 1,5-10: chúng tôi đã loan báo Tin Mừng tại Thêxalônica không phải chỉ bằng lời nói, mà còn với sức mạnh của Chúa Thánh Thần nữa (1,5-6). Anh chị em đã tiếp nhận Lời của Thiên Chúa với niềm vui giữa muôn ngàn khó khăn thử thách, nêu gương sáng cho người khác (1,7-8). Chúng tôi đã được tiếp đón nồng nhiệt (1,9). Anh chị em đã hoán cải trở về với Thiên Chúa duy nhất chân thật và với Chúa Giêsu (1,9-10). Tiếp đến là sự hiện diện hoạt động của ”chúng tôi” tại Thêxalônica (2,1-12) và thái độ gắn bó xác tín vào lòng tin của ”anh chị em” Thêxalônica (2,13-16). Sau đó là nỗi âu lo của ”chúng tôi” phải rời xa giáo đoàn mới thành hình chưa được bao lâu (2,17-3,5). Nhưng ”anh chị em” đã kiên vững trong lòng tin. Do đó ”chúng tôi” được tràn đầy an ủi và niềm vui khôn xiết (3,7-13).
Trong hình thái và lược đồ ngôn ngữ đó tiềm ẩn cả một kinh nghiệm gặp gỡ, hiệp thông sâu xa nối kết thánh Phaolô, các thừa sai cộng sự viên và tín hữu giáo đoàn Thêxalônica. Cái giao thoa ngôn ngữ ”chúng tôi- anh chị em” diễn tả cái giao thoa sự sống giữa cá vị thành lập giáo đoàn kitô với các tín hữu thành phần của giáo đoàn. Sợi dây nối kết hai bên là Tin Mừng của Chúa, nghĩa là lời loan báo qua Chúa Giêsu Kitô tử nạn và phục sinh, Thiên Chúa ban ơn cứu độ cho con người và mời gọi con người bước vào một cuộc sống mới của lòng tin cậy mến. Việc tham dự vào biến cố đó khiến cho tín hữu bước vào vòng hiệp thông sâu xa giữa các người loan báo Tin Mừng và các người nghe loan báo Tin Mừng. Sự kết hiệp đó đặt nền tảng trên cùng lời được loan báo và được tiếp nhận, trên cùng một niềm tin được rao giảng và được đón nhận, trên cùng một niềm hy vọng được cống hiến và được tiếp thu. Từ đó phát sinh ra một tình huynh đệ thiêng liêng, khiến cho tín hữu dấn thân cả cuộc đời. Đây là lý do tại sao thánh Phaolô không ngừng gọi các tín hữu Thêxalônica là ”anh chị em”. Thư gửi cho họ phát xuất từ tình yêu thương huynh đệ và diễn tả sự hiệp nhất huynh đệ ấy.
ĐỀ TÀI 28:NỘI DUNG PHẦN HAI THƯ THỨ I GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Đọc thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica chúng ta nhận ra ngay hai phần trong kết cấu và nội dung của thư. Phần thứ nhất gồm ba chương đầu gợi lại các kỷ niệm, mà thánh Phaolô đã có với tín hữu cộng đoàn và kể ra các lý do khiến thánh Phaolô vô vàn cảm tạ Thiên Chúa. Phần hai gồm hai chương 4-5 chứa đựng các lời khuyên nhủ, khuyến khích, cảnh cáo và răn bảo tín hữu. Có thể chia phần hai thành bốn đoạn. Đoạn nhất bao gồm các lời khuyên tín hữu sống thánh thiện và yêu thương nhau (4,1-12). Đoạn hai là giáo lý liên quan tới số phận của những người đã chết và lời khuyến khích của thánh Phaolô (4,13-18). Đoạn ba lại đề cập tới ngày sau hết và lời thánh Phaolô khuyên tín hữu tỉnh thức sẵn sàng đón chờ ngày Chúa Kitô quang lâm (5,1-11) Đoạn bốn gồm các lời khuyên nhủ tổng quát (5,12-22). Sau cùng trước lời kết (5,25-28) có lời nguyện xin Thiên Chúa giữ gìn tín hữu Thêxalônica được toàn vẹn trong ngày cánh chung (5,23-24).
Sau khi bầy tỏ nỗi vui mừng khôn tả, vì biết tín hữu Thêxalônica dù gặp biết bao gian lao thử thách, đã không suy giảm lòng tin mà còn kiên trì sốt sắng vững mạnh hơn nữa, đến nổi tiếng trong cả nước Hy Lạp, thánh Phaolô khuyến khích họ cứ tiếp tục lớn mạnh trong lòng Tin, lòng Cậy và lòng Mến. Ngài viết trong đầu chương 4: ”Còn lại, thưa anh chị em, đây là các yêu cầu và khuyến khích của chúng tôi trong Chúa Giêsu: Anh chị em đã học biết từ chúng tôi phải hành xử thế nào để đẹp lòng Chúa, và anh chị em đang sống như vậy. Hãy tiến tới hơn nữa! Thật thế, anh chị em biết các huấn thị, mà chúng tôi đã đưa ra cho anh chị em nhân danh Chúa Giêsu. Ý Thiên Chúa muốn: đó là anh chị em hãy sống trong sự thánh thiện và xa lánh dâm ô. Mỗi người hãy làm chủ bản thân mình để sống trong thánh thiện và danh dự, mà không để cho mình sống buông thả theo sự thèm khát như người ngoại giáo không biết Chúa thường làm. Đừng có ai gây thiệt hại cho tha nhân và lường gạt người khác về điều này”.
Nếu dịch sát nghĩa câu 4 của chương 4 sẽ là: ”Ước chi mỗi người trong anh chị em hãy biết sắm cho mình một cái bình trong sự thánh thiện và trong danh dự”. Từ ”skeuos” trong tiếng hy lạp có nghĩa là đồ dùng, hay cái bình. Đó là một hình ảnh người hy lạp thường dùng để diễn tả ”thân xác” con người. Thân xác là cái bình chứa đựng linh hồn. Trong chương 4,7 thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô thánh Phaolô khẳng định với mọi người rằng Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng cứu độ của Chúa là một kho tàng mà các vị truyền giáo chứa đựng trong các bình bằng đất sét. Nhưng như thế là để Thiên Chúa tỏ lộ quyền năng vô song của Ngài trong hoạt động thừa tác của các vị, chứ không do sức lực hay tài cán của các vị. ”Bình băng đất sét” là hình ảnh có thể ám chỉ sự giòn mỏng yếu hèn của chính thánh Phaolô (2 Cr 12,7-10; Gl 4,14) và của các cộng sự viên. Nhưng cũng có thể ám chỉ thân xác bằng đất sét của con người như tả trong sách Sáng Thế chương 2,7, và được thánh Phaolô nhắc tới trong thư gửi tín hữu Roma chương 9,21-23, thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô chương 15,47 và ở đây. Thân xác như cái bình bằng đất sét vừa diễn tả sự giòn mỏng dễ vỡ, vừa ám chỉ bản tính yếu đuối bất toàn của con người trong mọi bình diện cuộc sống của nó: cuộc sống tâm sinh vật thể lý cũng như cuộc sống tinh thần. Vì là cái bình bằng đất sét, nên con người đau yếu, vỡ nát, sứt mẻ, tan rữa đi. Như thế nếu hiểu cái bình ở trong câu 4 chương 4 thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica là thân xác, thì dịch là ”mỗi người hãy chiếm đoạt thân xác của chính mình, nghĩa là hãy chế ngự, hãy làm chủ được thân xác mình”, đừng để cho nó sống lăng loàn trác táng, ăn chơi buông thả dâm dật.
Tuy nhiên cũng có thể dịch câu trên theo một nghĩa khác. Trong môi trường xã hội sêmít, người vợ được nam giới coi như là thịt xác hay thân xác của chính mình, như viết trong sách Sáng Thế chương 2,23. Khi thấy người nữ, người nam nói: ”Lần này, nàng là thịt từ thịt tôi, xương từ xương tôi. Người ta sẽ gọi nàng là đàn bà, vì nàng được lấy ra từ đàn ông”. Như thế kiểu nói ”mỗi người hãy sắm cho mình một cái bình” có nghĩa là mỗi người hãy lấy vợ (1 Cr 7,2), hãy lập gia đình, để sống trong sự thánh thiện và danh dự của cuộc sống hôn nhân và tính dục, chứ đừng buông thả dâm ô theo lòng ham muốn của mình (1 Cr 7). Hôn nhân giúp kitô hữu sống niềm tin thánh thiện và sự tùy thuộc của mình vào Thiên Chúa. Giữa một môi trường ngoại giáo, đối với nam giới theo kitô giáo, việc chọn lựa cho mình một người vợ là vấn đề quan trọng thánh Phaolô không thể bỏ qua không nhắc tới. Nó thuộc bổn phận khuyên bảo và dậy dỗ tín hữu của ngài.
Và thực vậy, trong phần hai thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica thánh Phaolô không ngừng nhắc họ đừng quên các giáo huấn mà ngài và các cộng sự viên đã giảng giải cho họ, khi còn ở bên họ. Phaolô khuyến khích tín hữu sống theo tinh thần Tin Mừng của Chúa. Vì ai từ bỏ các huấn thị này thì không phải họ chối bỏ con người, mà chối bỏ Thiên Chúa, là Đấng trao ban Thánh Thần cho họ (4,8). Liên quan tới tình yêu thương huynh đệ như lệnh Chúa truyền dậy, thánh Phaolô nói ngài không cần phải viết cho họ nữa, vì chính họ đã học biết từ Thiên Chúa, và thực sự là họ đang thực thi giáo huấn yêu thương đó đối với mọi tín hữu trong toàn vùng Maceđonia. Và thánh Phaolô thôi thúc họ hãy cố gắng có các tiến bộ mới trong lãnh vực này: ”Anh chị em, chúng tôi khuyến khích anh chị em hãy có các tiến bộ mới”(4,10). Tiếp đến thánh nhân khuyên ai nấy hãy biết sống bình tĩnh không nôn nóng ch
Đề tài 25: Thư gửi giáo đoàn Thêxalônica
Đề tài 26: Gương mặt của giáo đoàn Thêxalônica
CHƯƠNG II
ĐẶC THÁI, KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG THƯ THỨ I GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Đề tài 27: Kết cấu và nội dung thư thứ I gửi giáo đoàn Thêxalônica
Đề tài 28: Nội dung phần hai thư thứ I gửi giáo đoàn Thêxalônica
Đề tài 29: Hình thức cũ, tinh thần và nội dung mới
CHƯƠNG III
CÁC MẤU ĐIỂM THẦN HỌC NỔI BẬT TRONG THƯ THỨ I GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Đề tài 30: Tâm tình cảm tạ
Đề tài 31: Sự tuyển chọn nhưng không
Đề tài 32: Cuộc sống thánh thiện và yêu thương huynh đệ
Đề tài 33: Tỉnh táo đợi chờ Chúa đến
Đề tài 34: Sức lớn mạnh của cộng đoàn kitô Thêxalônica
CHƯƠNG IV
TÁC GIẢ, KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG THƯ THỨ II GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Đề tài 35: Những vấn nạn trong thứ thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica
Đề tài 36: Ai là tác giả thư thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica?
Đề tài 37: Kết cấu và nội dung thư thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica
CHƯƠNG V
SỨ ĐIỆP THẦN HỌC THƯ THỨ II GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Đề tài 38: Tính sổ đời trong ngày sau hết
Đề tài 39: Ngày Chúa đến quy tụ và hiệp nhất tín hữu
Đề tài 40: Các dấu chỉ báo trước ngày thế mạt
Đề tài 41: Lao động như một phần của ơn gọi làm người
CHƯƠNG I
BỐI CẢNH VÀ GƯƠNG MẶT GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
ĐỀ TÀI 25: HƯ GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Cho tới thời gian gần đây giới học giả Kinh Thánh Tân Ước đều tin rằng thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica là tài liệu cổ xưa nhất trong các tác phẩm của Kinh Thánh Tân Ước. Lý do là vì nó được thánh Phaolô viết giữa các năm 50-51, tức 20 năm sau khi Đức Giêsu Kitô tử nạn và phục sinh. Tuy nhiên, nếu lập trường của học giả Jean Carmignac và John O'Callagan đúng, thì giờ đây phải nói rằng Phúc âm thánh Marcô được biên soạn ra giữa các năm 43-50 là tác phẩm cổ xưa nhất trong Kinh Thánh Tân Ước. Dầu sao đi nữa, thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica cũng là một tài liệu và là một chứng từ vô cùng qúy báu, vì nó cung cấp cho chúng ta các yếu tố gía trị giúp nhận ra một số đường nét chính trong gương mặt của các cộng đoàn kitô tiên khởi. Thật thế, thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica tuy gián tiếp cho biết tin tức liên quan đến giáo đoàn này, nhưng lại phản ánh một cách trực tiếp các kiểu diễn tả nòng cốt của lòng tin kitô thời đó. Nó cho thấy các tông đồ đã theo cùng một lược đồ loan báo Tin Mừng cứu độ trong Giáo Hội thời khai sinh, và việc tin nhận Tin Mừng cũng như gia nhập Giáo Hội của các tín hữu đã dựa trên cùng một nền tảng các đòi buộc được xác định một lần cho luôn mãi.
Ngoài ra thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica còn cho thấy thánh Phaolô không tự giới thiệu mình như là một bậc thầy, sư phụ thành lập các tôn giáo hay trường phái triết lý, nhưng thánh nhân tự giới thiệu mình như là người loan báo sứ điệp cứu độ. Tin Mừng cứu độ đó đã vang vọng lần đầu tiên tại Giêrusalem bằng tiếng Aramây, rồi được loan báo bằng tiếng Hy lạp tại Antiokia bên Siria, nơi thánh Phaolô đã trưởng thành trong ơn gọi kitô và truyền giáo.
Đàng khác thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica cũng cho chúng ta thấy bản thảo đầu tiên, tuy chưa đầy đủ nhưng rất ý nghĩa liên quan tới các đề tài, mà thánh Phaolô sẽ thảo luận và khai triển một cách sâu rộng sau này trong các thư của ngài. Do đó khi so sánh một đề tài như được khai triển trong các thư, chúng ta có thể nhận ra tiến trình phát triển trong tư tưởng sáng tạo và phong phú của thánh nhân trước các tình trạng sống và các vấn đề mới thường xuyên nảy sinh trong cùng một cộng đoàn hay trong các cộng đoàn khác nhau. Thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica cũng cho thấy gương mặt của một Phaolô hăng say hướng về biến cồ Chúa Kitô quang lâm, để kết thúc lịch sử thế giới hiện tại và khai mào lịch sử thế giới của cộng đoàn tương lai, trong đó loài người được sống kết hiệp với Thiên Chúa Cha và với Con của Ngài đã phục sinh. Tuy nhiên chẳng bao lâu sau đó thánh nhân chuyển hướng tư tưởng: từ thái độ nôn nóng đợi chờ Phaolô nêu bật thái độ đúng đắn của lòng tin kitô là sống tràn đầy giây phút hiện tại, trong đợi chờ, nhưng đồng thời và nhất là trong tin yêu phó thác. Khi biết sống tràn đầy hiện tại là tín hữu đã nếm hưởng được phần nào thực tại của ơn cứu độ mai sau rồi.
Dầu sao đi nữa, thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica cũng cho phép chúng ta nhận thấy thánh Phaolô luôn luôn chung nhịp với cuộc sống hồi hộp phấn khởi của cộng đoàn kitô, mà thánh nhân muốn đối thoại trong thư. Các thư của thánh nhân không phải là các tác phẩm được viết ra từ bàn giấy, xa cách thực tại sống của các tín hữu, cũng không phải là các khảo luận trừu tượng của các tư tưởng gia sống lẻ loi trong thế giới riêng rẽ của mình, mà là các trao đổi kinh nghiệm phong phú của lòng tin với các nhân vật cụ thể, có các vấn đề và các âu lo khắc khoải cần được giải quyết. Thật vậy, tuy ở xa họ trong không gian nhưng Phaolô đối thoại trực tiếp với các tín hữu. Cuộc đối thoại qua thư tín này tiếp tục các buổi giảng dậy diện đối diện trước đây, khi thánh nhân còn sống giữa họ, loan báo Tin Mừng cứu độ cho họ và dậy dỗ họ. Các từ ngữ cũng như kiểu diễn tả và giọng điệu đầm ấm trong các thư không cho phép chúng ta kết luận rằng các thư ngài viết trình bầy các lý thuyết trừu tượng, lạnh lùng, xa vắng. Trái lại chúng chứng minh cho thấy tính chất cấp thời, và là chìa khóa giúp đọc hiểu và đi sâu vào cuộc sống của các tín hữu trong Giáo Hội thời khai sinh. Phaolô sát cánh kề vai sống kinh nghiệm lòng tin sốt dẻo đó với các tín hữu của nình, thuộc các nhóm thiểu số sống rải rác trong thế giới rộng lớn đa diện của một số thành phố lớn trong đế quốc Roma hồi thế kỷ thứ I.
Các tài liệu khác nhau, đặc biệt là sách Công Vụ, cho chúng ta biết cộng đoàn Thêxalônica đã khai sinh vào năm 50. Hồi đó Phaolô đã cùng Silvano và Timoteo vượt biên giới Tiểu Á vào giảng đạo tại vùng Macedonia thuộc đế quốc Roma. Để nêu bật tầm quan trọng sự hiện diện của đoàn truyền giáo từ Siria tức vùng Tiểu Á sang rao truyền Tin Mừng tại Maceđonia tức châu Âu, sách Công Vụ đã nhắc tới một thị kiến. Trong chương 16,9-10 thánh sử Luca kể lại rằng trong thị kiến Phaolô trông thấy một người vùng Maceđonia mời thánh nhân đến rao truyền Tin Mừng cứu độ trong quê hương của ông. Phaolô coi đó là dấu chỉ Chúa muốn cho ngài đến truyền giáo trong vùng này. Thật ra, mọi chặng trong tiến trình truyền giáo trên thế giới đều được Thiên Chúa hướng dẫn. Và thế là Phaolô cùng các bạn đồng hành sang Maceđonia. Chỉ sau mấy ngày rao giảng các vị thành lập được một cộng đoàn nhỏ tại thành phố Philiphê, là thành phố lớn vùng Maceđonia. Nhưng chẳng bao lâu sau đó Phaolô và các cộng sự viên phải rời thành phố này, vì bị vu khống là gây rối loạn và truyền bá các thói tục chống lại người Roma. Hai vị bị bắt, bị đánh đòn và tống ngục, rồi sau đó được yêu cầu rời khỏi thành phố. Biến cố này được thánh Luca tường thuật tỉ mỉ trong chương 16,11-40 sách Công Vụ. Thánh Phaolô cũng nhắc tới nó trong chương 2,2 thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica.
Rời Philiphê thánh Phaolô và các bạn đồng hành tới Thêxalônica, thủ phủ của vùng Maceđonia. Thành phố này được tướng Cassandro thành lập hồi năm 315 trước Công nguyên, và lấy tên vợ là Thessalonike, tức em gái của Aláchxăng Đại Đế đặt cho thành phố mới. Kiểu tổ chức xã hội và chính trị tại Thêxalônica cũng giống như trong các thành phố hy lạp khác thời bấy giờ. Phải nói rằng Thêxalônica là trung tâm thương mại phồn thịnh bậc nhất hồi thế kỷ thứ I, vì là thành phố cảng nằm cạnh bờ biển Egeo, và trên con lộ Egnatia phía tây nối liền với Italia và phía đông nối liền với vùng Bosforo. Trên bình diện tôn giáo Thêxalônica nổi tiếng vì sự hiện diện của nhiều tôn giáo khác nhau. Bên cạnh các thần của người Roma được chính quyền tôn sùng, còn có các thần địa phương của vùng Tracia và các tôn giáo huyền bí du nhập từ Ai Cập và Tiểu Á. Công tác truyền giáo của thánh Phaolô và các thừa sai gặt hái nhiều kết qủa trong thành phố lớn này. Các vị đặt nền cho một cộng đoàn kitô như thánh Luca kể lại trong chương 17,14 sách Công Vụ, và thánh Phaolô nhắc lại cho tín hữu Thêxalônica biết trong chương 2,1-16 thư thứ nhất gửi cho họ. Tuy nhiên, thánh Phaolô và các cộng sự viên cũng không ở lại lâu trong cộng đoàn kitô mới thành lập, vì gặp sự thù nghịch và sức chống đối mãnh liệt, đặc biệt của cộng đoàn do thái sống tại đây (Cv 17,5-10).
Để có cớ vu khống Phaolô và các cộng sự viên, người do thái thuê bọn du đãng quấy phá và gây rối loạn trong thành phố, rồi xông tới nhà Giason tính bắt hai vị. Nhưng không tìm thấy các vị, họ nổi giận bắt Giason và điệu đến trước mặt chính quyền địa phương, vu khống cho tội gây náo động khắp thế giới và đến thành Thêxalônica để tiếp tục gây rối, chống đối sắc lệnh của nhà vua và tuyên truyền rằng có một vua khác là Giêsu. Sau khi bắt nộp tiền thế chân, giới lãnh đạo trả tự do cho Giason và mấy tín hữu khác. Ngay trong đêm hôm đó tín hữu cộng đoàn đưa Phaolô và Sila rời khỏi thành phố sang Berea. Thế là thánh Phaolô và cộng sự viên Sila bắt buộc phải bỏ giáo đoàn trẻ Thêxalônica mới thành lập. Trình thuật truyền giáo trong sách Công Vụ, chương 17,10-18,17 cho biết thánh Phaolô sang truyền giáo tại Berea, rồi Athènes và Côrintô. Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica thánh Phaolô cũng nhắc lại cho tín hữu biết người do thái đã theo sang Berea chống đối và quấy phá công cuộc truyền giáo, nên thánh nhân đành để Timôtêô và Sila ở lại đây rồi một mình đi Athènes và Côrintô rao giảng Tin Mừng.
Vì bất đắc dĩ phải rời giáo đoàn Thêxalônica trong tình trạng căng thẳng và khó khăn như thế, nên thánh Phaolô không an lòng. Một mặt các kitô hữu mới theo đạo bị các người do thái sách nhiễu (1 Ts 2,14), mặt khác lại không có ai tiếp tục giảng giải giáo lý và giúp họ đào sâu sự hiểu biết và trưởng thành trong lòng tin. Thánh Phaolô sợ các khó khăn thử thách khiến họ ngã lòng bỏ đạo. Thánh nhân lại không thể tới thăm họ được, vì bị Satan cản ngăn. Đây là kiểu nói quy ước. Thật ra, lý do chính là vì thánh nhân bị nhóm do thái đối nghịch theo dõi rất sát, khó có thể qua mặt họ được. Do đó từ Athènes thánh Phaolô mới gửi Timôtêô về thăm giáo đoàn thay ngài (1 Ts 3,1-2). Trong khi đó vì không thành công trong công tác loan báo Tin Mừng tại Athènes, nên Phaolô và Silvano đã đi Côrintô. Chính tại đây thánh nhân gặp lại Timôtêô từ Thêxalônica trở về cho tin tức. Tín hữu giáo đoàn Thêxalônica chẳng những kiên trì trong lòng tin, mà còn sống đạo mạnh mẽ nữa. Phaolô như người chết sống lại. Mọi âu lo khắc khoải đều tan biến hết, nhường chỗ cho niềm vui khôn tả. Thánh nhân cám tạ ơn Chúa vô vàn vì đã gìn giữ các tín hữu Thêxalônica. Thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica đã nảy sinh trong bối cảnh ấy.
ĐỀ TÀI 26: GƯƠNG MẶT CỦA GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Cùng với chương 17,1-10 sách Công Vụ, thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica là tài liệu qúy báu giúp chúng ta hình dung ra gương mặt của giáo đoàn trẻ Thêxalônica, mà thánh Phaolô đã phải từ giã, một thời gian ngắn sau khi thành lập. Chương 16,2 sách Công Vụ nói là sau ba tuần. Nhưng có lẽ thời gian lưu lại Thêxalônica đã lâu hơn, vì chương 4,16 thư gửi tín hữu Philiphê cho chúng ta biết là thánh Phaolô và các cộng sự viên đã hai lần nhận được viện trợ từ Philiphê, là thành phố nằm cách Thêxalônica 150 cây số.
Trước hết giáo đoàn Thêxalônica gồm các tín hữu không do thái theo Kitô (1,9), nghĩa là một cộng đoàn khác với các cộng đoàn gồm các tín hữu gốc do thái theo Kitô như cộng đoàn Giêrusalem và các cộng đoàn hỗn hợp gồm các anh chị em do thái và không do thái theo đạo, như trường hợp cộng đoàn Antiochia bên Siri. Các tín hữu Thêxalônica vừa tin nhận Thiên Chúa duy nhất như đã được tín hữu do thái tuyên xưng, vừa tin nhận Đức Giêsu Kitô Đấng đã chết và sống lại là Con của Ngài. Nghĩa là họ tin nhận tôn giáo độc thần và lòng tin Kitô (1,9-10). Lòng tin vào Chúa Giêsu Kitô tử nạn và phục sinh được minh xác qua các công thức tuyên xưng lòng tin được thánh Phaolô lập đi lập lại trong thư chẳng hạn như: ”Nếu Đức Giêsu đã chết và đã sống lại và chúng ta tin Ngài...” (4,14), hay ”Ngài đã chết cho chúng ta...”(5,10), hoặc ”...chờ đợi Con của Chúa từ trời xuống, Đấng Thiên Chúa đã cho sống lại từ kẻ chết” (1,10).
Tuy nhiên trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica thánh Phaolô đã nhấn mạnh tới biến cố Chúa Kitô quang lâm để cứu rỗi các tín hữu. Chương 1,9-10 là kiểu tóm tắt kiểu cách rao giảng Tin Mừng chung trong thời Giáo hội khai sinh: ”Ai nấy đều nhắc tới cách thức anh chị em đã đón tiếp chúng tôi và thuật lại việc anh chị em đã mau mắn từ bỏ các tà thần để quay về thờ phượng Thiên Chúa hằng sống và chân thật như thế nào, cũng như đợi chờ Con của Ngài từ trời xuống, Đấng đã được Ngài cho sống lại từ kẻ chết, là Đức Giêsu Đấng giải thoát chúng ta khỏi cơn thịnh nộ gần kề”. Ở đây kinh nghiệm kitô được định nghĩa như là việc chờ đợi Chúa Giêsu trở lại vào ngày sau hết. Tín hữu hướng cái nhìn của minh về tương lai. Như thế có thể định nghĩa cuộc sống của tín hữu trong cộng đoàn Thêxalônica như là hy vọng vào ơn cứu độ mai sau. Trên thực tế họ đợi chờ Chúa Kitô từ trời xuống để đem họ lên theo về thế giới thiên linh của Thiên Chúa. Cũng chính vì thế hánh Phaolô mới viết trong chương 4,16-17: ”Vì khi hiệu lệnh được ban ra, và tỗng lãnh thiên thần lên tiếng, cùng với tiếng kèn của Thiên Chúa trổi vang, thì chính Chúa Kitô sẽ từ trời xuống: Khi đó những kẻ đã chết trong Chúa Kitô sẽ sống lại trước tiên. Tiếp đến là chúng ta, những người còn sống sót, chúng ta sẽ được cất nhắc lên với họ trên các tầng mây để gặp Chúa trên không trung và như thế chúng ta sẽ sống với Chúa luôn mãi”.
Qua đó chúng ta nhận ra thái độ trông chờ nôn nóng thái qúa của tín hữu Thêxalônica. Mọi người đều nghĩ rằng biến cố Chúa Giêsu Kitô quang lâm rất gần kề, nên nhiều tín hữu, kể cả thánh Phaolô nữa cũng tin rằng mình sẽ còn sống cho tới lúc ấy và tham dự vào biến cố cứu độ trọng đại này. Có thể họ đã nghĩ rằng vì Chúa Giêsu Kitô đã phục sinh vinh hiển và chiến thắng cái chết, nên Ngài cũng sẽ miễn cho họ khỏi phải sống kinh nghiệm khủng khiếp này của cái chết. Cũng giống như ông Enoc, tổ phụ thời tiền lụt hồng thủy và ngôn sứ Elia, là những người đã được Thiên Chúa ban ơn đặc biệt cho trực tiếp bước vào thế giới thiên quốc, mà không phải sống kinh nghiệm cái chết và sự rữa nát của thân xác (St 5,24; 2 V 2,1-11), các kitô hữu Thêxalônica nghĩ rằng họ cũng sẽ được trực tiếp từ trần gian bước vào căn nhà trên trời. Ơn cứu rỗi chính là sự kiện được bước vào cuộc sống hạnh phúc thiên quốc ấy. Và đó là nỗi niềm mong ước nồng cháy của cộng đoàn kitô thời bấy giờ.
Phải nói ngay rằng chẳng bao lâu sau đó các sự kiện cụ thể đã giúp tín hữu Thêxalônica và cả thánh Phaolô nữa nhận ra cái ngây thơ và hão huyền của sự hy vọng này. Tuy nhiên, thái độ nôn nóng trông chờ biến cố Chúa Giêsu Kitô trở lại phán xét trần gian đó đã ảnh hưởng trên cung cách sống thường ngày của các tín hữu. Một số người vì qúa tin chắc là chẳng bao lâu nữa Chúa Kitô sẽ quang lâm, nên họ khoanh tay chờ đợi, bỏ bê công ăn việc làm, lơ là bổn phận thường ngày, mọi việc trần gian khác và gây hang mang lo lắng cho người khác. Do đó trong thư thánh Phaolô đã phải khuyên các anh chị em này bình tĩnh trở lại và tiếp tục chu toàn các công việc và bổn phận thường ngày (4,11). Thật ra ngoài một số người kể trên, tín hữu cộng đoàn Thêxalônica sống rất can đảm và dấn thân. Chính thánh Phaolô cũng đã phải công nhận rằng lòng tin của tín hữu trong cộng đoàn thể hiện ra trong cuộc sống cụ thể. Tình yêu thương đối với Thiên Chúa được tín hữu Thêxalônica diễn tả bằng các công tác liên đới trợ giúp. Và mặc dù phải sống trong một hoàn cảnh đầy đối nghịch, khó khăn, bất trắc và đe dọa, họ vẫn kiên trì đợi chờ ngày Chúa đến (1,3). Càng gặp thử thách khó khăn bao nhiêu họ lại càng gắn bó và bám chặt vào Chúa bấy nhiêu, đến nêu gương sáng cho tín hữu mọi giáo đoàn khác (1,7).
Trên bình diện luân lý, nội dung thư gửi tín hữu Thêxalônica hé mở cho thấy môi trường xã hội Thêxalônica có các đòi buộc nghiêm chỉnh và dân chúng rất hướng về các gía trị tinh thần. Thánh Phaolô không ghi nhận trường hợp bất thường nào trong cuộc sống của tín hữu. Ngài chỉ muốn củng cố con đường lòng tin mà các tín hữu đã bắt đầu với ngài (4,1). Đặc biệt thánh nhân muốn khuyên nhủ tín hữu dấn thân sống đời sống thánh thiện, xa lánh sự dữ và tội lỗi, để luôn luôn sẵn sàng gặp Chúa Giêsu Kitô, khi Ngài quang lâm. Nói cách khác, Phaolô khuyên tín hữu phải sống làm sao để đừng đánh mất ơn cứu độ trong ngày cuối cùng của Chúa (5,4). Thí dụ ngài viết trong chương 5 câu 23 như sau: ”Ước chi Thiên Chúa của hòa bình thánh hóa anh chị em hoàn toàn, và ước chi tinh thần, linh hồn và thân xác của anh chị em được giữ gìn trọn vẹn để anh chị em không thể bị trách cứ gì khi Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta đến”
Liên quan tới nội dung các giáo huấn luân lý đạo đức thánh Phaolô chỉ đưa ra các lời kêu gọi chung chung khiến chúng ta liên tưởng tới các đề tài và lược đồ thuộc truyền thống do thái nổi tiếng là có gía trị luân lý cao với các đòi buộc nghiêm ngặt. Nhưng các điểm này không diễn tả sắc thài đặc thù của các cộng đoàn kitô tiên khởi. Tuy nhiên cần xác định rằng các đòi buộc luân lý mà thánh Phaolô và các thừa sai đề ra cho các tín hữu ngoại giáo Thêxalônica theo Kitô, cũng đã là một lý trởng luân lý cao, so sánh với thói tục sống buông thả trước kia của họ.
Chúng ta không có nhiều tin tức giúp hiểu biết kiểu cách tổ chức nội bộ của cộng đoàn kitô Thêxalônica. Trong thư thứ nhất thánh Paholô chỉ nói tới một vài tín hữu chú ý tới các anh chị em khác và cố gắng khuyến cáo họ khi có chuyện gì cần nói. Họ là các thủ lãnh tự phát, được cộng đoàn thừa nhận vì các nỗ lực dấn thân và vì khả năng của họ, chứ không phải là một quyền bính được thành lập theo nguyên tắc. Thánh Phaolô cũng khuyên tín hữu tôn trọng và qúy mến họ, không dựa trên một quyền hợp hiến nhưng là vì các dấn thân và công việc ích lợi mà họ làm cho cộng đoàn. Phaolô viết trong chương 5,12-13: ”Thưa anh chị em, chúng tôi xin anh chị em hãy qúy trọng các người giữa anh chị em đã lao nhọc trong việc hướng dẫn anh chị em trong Chúa và sửa dạy anh chị em. Hãy hết lòng kính trọng họ với tình yêu thương vì công việc họ làm. Và hay sống hòa bình với nhau”. Những gì thánh Phaolô viết trên đây cho thấy các vị lãnh đạo cộng đoàn ấy gồm nhiều người theo kiểu các người lãnh đạo có đặc sủng, chứ không phải chỉ là một vị lãnh đạo được chính thức cắt đặt cai quản cộng đoàn. Nói cách khác, trong cộng đoàn kitô Thêxalônica đã có các tín hữu có khả năng, tình nguyện và có sáng kiến đứng ra đảm lãnh trách nhiệm phục vụ cộng đoàn.
Trên bình diện đối ngoại, thư thánh Phaolô cho chúng ta biết các tín hữu kitô Thêxalônica phải sống trong môi trường thù nghịch với họ. Thánh Phaolô không ngần ngại so sánh tình trạng sống của giáo đoàn Thêxalônica với con đường thập gía của các cộng đoàn bên Palestine (2,4). Tuy thánh Phaolô không bao giờ nói tới việc bắt đạo, nhưng sự kiện ngài nêu bật các khó khăn và đối kháng do người do thái gây ra cho các tín hữu của giáo đoàn trẻ này, khiến cho chúng ta có thể kết luận là quả thật tín hữu đã bị sách nhiễu. Cũng có thể nói thêm rằng người do thái sống tại Thêxalônica còn xúi dục dân ngoại chống đối nhóm tín hữu kitô. Dẫu thế nào đi nữa, vì lựa chọn theo Chúa Kitô và sống lòng tin của mình, nhóm kitô hữu Thêxalônica phải sống trong hoàn cảnh bị cô lập hóa.
Chúng ta cũng không có tin tức chính xác liên quan tới chân dung của các thành phần tín hữu thuộc cộng đoàn Thêxalônica. Theo chương 17,4 sách Công Vụ trong các tín hữu có một số phụ nữ thuộc lớp thượng lưu. Nhưng vì tác phả của thánh Luca có mục đích bênh vực Kitô giáo, nên khó mà biết chắc tin trên là tin có thực hay chỉ lá một kiểu quảng cáo cho giáo đoàn này. Dựa trên lời thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu hãy làm việc để có cơm bánh, hãy làm việc để mưu sinh chứ đừng ăn không ngồi rỗi, chúng ta có thể khẳng định rằng các tín hữu là giới công nhân lao động (4,11). Vào thời đó giới lao động gồm các nô lệ, phu khuân vác tại bến cảng Thêxalônica, và gới tiểu công nghệ. Qua đó chúng ta có thể hình dung ra các thành phần cộng đoàn. Đa số họ là dân lao động thuộc giai tầng thấp kém trong xã hội.
CHƯƠNG II
ĐẶC THÁI, KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG THƯ THỨ I GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
ĐỀ TÀI 27:KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG THƯ THỨ I GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Khi đọc thư thứ I gửi giáo đoàn Thêxalônica, chúng ta nhận ra ngay kết cấu của thư, gồm hai phần. Phần nhứ nhất gồm ba chương đầu có nội dung là các lời cảm tạ ngợi khen Thiên Chúa. Phần thứ hai gồm hai chương còn lại bao gồm các lời khích lệ khuyên nhủ tín hữu.
Bình thường thánh Phaolô bắt đầu các thư của ngài với lời đội ơn Thiên Chúa. Nhưng trong thư thứ I gửi giáo đoàn Thêxalônica, lời cám tạ ngợi khen ấy được khai triển và kéo dài làm thành đề tài chính của trọn phần đầu bưc thư. Lời cám tạ trở thành một thứ điệp khúc được thánh nhân lập đi lập lại: ”Chúng tôi không ngừng cám tạ Thiên Chúa cho anh chị em tất cả, và luôn luôn nhớ tới anh chị em trong lời cầu nguyện của chúng tôi” (1,2). ”Đấy là lý do tại sao chúng tôi không ngừng đội ơn Thiên Chúa” (2.13). ”Chúng tôi phải tạ ơn Thiên Chúa thế nào để đáp trả lại tất cả niềm vui mà nhờ công lao của anh chị em chúng tôi được nếm hưởng trước mặt Thiên Chúa chúng ta?” (3,9).
Chính thực tại sống lòng tin tuyệt diệu của tín hữu giáo đoàn Thêxalônica là lý do khiến thánh nhân không ngừng cảm tạ ngợi khen Thiên Chúa. Phải sống trong muôn ngàn khó khăn thử thách giữa một môi trường ngoại giáo đối nghịch với kitô hữu như thế, mà anh chị em Thêxalônica vẫn kiên vững sống lòng tin, lòng mến và lòng cậy một cách cụ thể, không hề suy yếu chuyển lay, thì qủa thật là một ơn trọng đại chỉ có Chúa mới có thể ban cho giáo đoàn. Họ qủa thật là những người được Thiên Chúa tuyển chọn. Tình yêu thương nhưng không của Thiên Chúa Cha tỏ lộ rõ ràng nơi họ. Ngài là Đấng đã lựa chọn để cho họ sống kinh nghiệm sự hiệp thông với Ngài và với các tín hữu kitô khác, trong khi đợi chờ ngày cánh chung. Nếu không vậy thì làm sao có thể giải thích được thái độ tín hữu Thêxalônica tin nhận và đáp trả lại lời kêu mời của Chúa mạnh mẽ như thế? Ngoài ra tin họ theo đạo được mọi người đồn thổi khắp nước Hy Lạp và trở thành một kiểu quảng cáo hữu hiệu cho công tác truyền giáo. Tất cả mọi sự kiện đó không thể xảy ra nếu không có bàn tay can thiệp của Thiên Chúa từ nhân. Chính vì thế thánh Phaolô vô vàn cảm tạ Chúa.
Tuy nhiên, Phaolô không chỉ hài lòng kể ra các lý do khiến thánh nhân luôn biết ơn cám tạ Chúa. Phaolô còn duyệt xét lại các biến cố đã khiến cho ngài gắn bó với các tín hữu Thêxalônica. Thánh nhân gợi lại các biến cố với tâm tình chia sẻ cảm động và nhất là với lòng biết ơn sâu thẳm đối với Thiên Chúa, là Đấng đã hướng dẫn mọi sinh hoạt truyền giáo của ngài. Có định nghĩa đây là một ”cử chỉ tạ ơn” thật cũng không qúa đáng. Trong nhãn quan lòng tin và tâm tình cám mến đó sự kiện Phaolô và các cộng sự viên bị đuổi khỏi thành phố Philiphê trở thành dịp cho ngài tới rao truyền Tin Mừng tại Thêxalônica và gặp gỡ tín hữu Thêxalônica. Một biến cố tự nó là tiêu cực có thể được Thiên Chúa biến trở thành tích cực để mưu ích lợi cho phần rỗi của con người. Đang truyền giáo tại Philiphê thì bị đuổi: đó là một thất bại cho Phaolô và các cộng sự viên của ngài. Nhưng nhờ thế Phaolô và các thừa sai mới sang Thêxalônica. Và sự hiện diện của các vị tại thành phố này không phải là vô ích. Sự thất bại nhục nhã ê chề tại Philiphê khiến cho Phaolô và các cộng sự viên càng trông cậy tín thác nơi Thiên Chúa hơn. Do đó cho dù có lại gặp khó khăn thử thách tại Thêxalônica, các vị vẫn cậy trông giảng dậy với tất cả thiện tâm của mình. Thánh nhân đã ra sức rao truyền Tin Mừng của Chúa cho họ với tất cả ý hướng tốt lành, vô vị lợi và lòng hy sinh xả kỷ.
Phaolô và các cộng sự viên ý thức được sứ mệnh của các vị là loan báo Tin Mừng cứu độ của Chúa, chứ không phải giảng dậy cốt ý làm đẹp lòng người đời hay hàng lãnh đạo trần gian, lại càng không phải để phỉnh nịnh ai hay tìm tư lợi. Các vị cũng không tìm hư danh từ bất cứ thành phần xã hội nào khác, kể cả các tín hữu. Các thừa sai cũng không đòi hỏi quyền được cung phụng và trợ giúp vật chất hay tài chánh, mặc dù việc các tín hữu lo lắng của ăn thức uống và nơi chốn ngủ nghỉ cho các thừa sai là thói quen thông thường của xã hội thời đó. Thay vì đòi hỏi được chu cấp và trọng đãi Phaolô và các cộng sự viên đã phải cố gắng tự lực mưu sinh, cần cù làm việc ngày đêm để có phương tiện nuôi thân, mà không phải phiền lụy tới các tín hữu và trở thành gánh nặng cho họ. Thế rồi ngoài việc giảng dậy Tin Mừng cứu độ một cách hoàn toàn nhưng không, Phaolô và các cộng sự viên còn nêu gương sống đơn sơ, khiêm tốn, và rất mực yêu thương, chú ý tới các tín hữu. Không có chuyện quan liêu, hách dịch, bao cấp, trịch thượng và đòi hỏi. Lại càng không có chuyện ”cả vú lấp miệng em”, mắng mỏ, đánh đập, hất hủi và đối xử hạ cấp. Trái lại, các vị có cung cách cư xử rất trân trọng đối với tín hữu, âu yếm, hiền dịu và chân thành với họ như cha mẹ lo lắng cho con cái nhỏ dại. Đặc biệt các vị không ngừng khuyên bảo, an ủi và nài xin các tín hữu sống xứng đáng với Thiên Chúa, Đấng đã gọi họ vào Nước của Ngài để hưởng vinh quang bất diệt. Qua những lời lẽ tâm sự chân tình ấy, thánh Phaolô cho chúng ta thấy cả một tinh thần tu đức truyền giáo và đường lối sư phạm truyền giáo, mà hàng giáo sĩ tu sĩ và các người có nhiệm vụ rao truyền Tin Mừng thuộc mọi thời đại phải năng để tâm suy gẫm (2,1-16).
Thái độ của tín hữu Thêxalônica vui mừng tiếp nhận Tin Mừng giữa mọi chống đối khó khăn của môi trường ngoại giáo trở thành kỷ niệm không bao giờ phai nhòa trong ký ức Phaolô. Tất cả trở thành nguồn hứng khởi khiến Phaolô xúc động cám tạ đội ơn Thiên Chúa, là Đấng đã ban cho thánh nhân ơn hăng say rao giảng Tin Mừng và cho tín hữu lòng nhiệt thành tiếp nhận Tin Vui cứu độ. Từ đó nảy sinh một giáo đoàn kitô sống động đích thực tại Thêxalônica .
Biến cố Phaolô phải bất thình lình xa rời cộng đoàn mới thành hình chưa được bao lâu lại càng in nét sâu đậm trong ký ức Phaolô hơn nữa (2,17-3,10). Thánh nhân khắc khoải muốn gặp lại các tín hữu, nhưng việc trở lại Thêxalônica gặp qúa nhiều chướng ngại không vượt thắng được. Bên cạnh nỗi nhớ thương đó là sự âu lo cho số phận của họ, phải đương đầu với mọi đối nghịch của môi trường xã hội chung quanh. Phaolô sợ các tín hữu mới theo đạo chán nản ngã lòng trước các bắt bớ và chèn ép đó. Sau cùng, khi không biết làm sao hơn, thánh nhân gửi cộng sự viên của mình là Timôtêô về Thêxalônica thăm tín hữu giáo đoàn thay ngài, xem tình hình giáo đoàn ra sao. Khi Timôtêô trở lại cho biết chẳng những tín hữu kiên trì trong mọi thử thách mà còn sống đạo hăng say sốt mến, nêu gương cho mọi người gần xa và luôn ghi nhớ công lao vị tông đồ đã đem Tin Mừng cứu độ tới cho họ và không nề quản yêu thương, hy sinh, xả kỷ, săn sóc họ như người mẹ săn sóc con thơ (2,7), như người cha lo lắng cho con cái (2,11), thánh Phaolô vui mừng qúa đỗi, không tìm ra lời nào để tạ ơn Thiên Chúa nữa (3,9). Và thánh nhân kết thúc phần thứ nhất của thư với hai lời khẩn cầu, nài xin Thiên Chúa san bằng mọi khó khăn chướng ngại trên con đường dẫn tới Thêxalônica, để thánh nhân có thể tới viếng thăm họ, và xin Chúa luôn trợ giúp các tín hữu Thêxalônica rất thân mến của ngài lớn lên trong tình yêu thương và có cung cách sống không thể chê trách vào đâu được (3,11-13).
Xét trên bình diện hình thức chúng ta nhận thấy kiểu nói sóng đôi ”chúngtôi - anh chị em”, làm thành hai trục của ký ức nói trên. Đây là một lịch sử được dệt từ hai mặt: một phía là thánh Phaolô và các thừa sai cộng sự viên, phía kia là các tín hữu của cộng đoàn Thêxalônica. Chiếc thoi giao thoa đó chạy rất nhanh trong chương 1,5-10: chúng tôi đã loan báo Tin Mừng tại Thêxalônica không phải chỉ bằng lời nói, mà còn với sức mạnh của Chúa Thánh Thần nữa (1,5-6). Anh chị em đã tiếp nhận Lời của Thiên Chúa với niềm vui giữa muôn ngàn khó khăn thử thách, nêu gương sáng cho người khác (1,7-8). Chúng tôi đã được tiếp đón nồng nhiệt (1,9). Anh chị em đã hoán cải trở về với Thiên Chúa duy nhất chân thật và với Chúa Giêsu (1,9-10). Tiếp đến là sự hiện diện hoạt động của ”chúng tôi” tại Thêxalônica (2,1-12) và thái độ gắn bó xác tín vào lòng tin của ”anh chị em” Thêxalônica (2,13-16). Sau đó là nỗi âu lo của ”chúng tôi” phải rời xa giáo đoàn mới thành hình chưa được bao lâu (2,17-3,5). Nhưng ”anh chị em” đã kiên vững trong lòng tin. Do đó ”chúng tôi” được tràn đầy an ủi và niềm vui khôn xiết (3,7-13).
Trong hình thái và lược đồ ngôn ngữ đó tiềm ẩn cả một kinh nghiệm gặp gỡ, hiệp thông sâu xa nối kết thánh Phaolô, các thừa sai cộng sự viên và tín hữu giáo đoàn Thêxalônica. Cái giao thoa ngôn ngữ ”chúng tôi- anh chị em” diễn tả cái giao thoa sự sống giữa cá vị thành lập giáo đoàn kitô với các tín hữu thành phần của giáo đoàn. Sợi dây nối kết hai bên là Tin Mừng của Chúa, nghĩa là lời loan báo qua Chúa Giêsu Kitô tử nạn và phục sinh, Thiên Chúa ban ơn cứu độ cho con người và mời gọi con người bước vào một cuộc sống mới của lòng tin cậy mến. Việc tham dự vào biến cố đó khiến cho tín hữu bước vào vòng hiệp thông sâu xa giữa các người loan báo Tin Mừng và các người nghe loan báo Tin Mừng. Sự kết hiệp đó đặt nền tảng trên cùng lời được loan báo và được tiếp nhận, trên cùng một niềm tin được rao giảng và được đón nhận, trên cùng một niềm hy vọng được cống hiến và được tiếp thu. Từ đó phát sinh ra một tình huynh đệ thiêng liêng, khiến cho tín hữu dấn thân cả cuộc đời. Đây là lý do tại sao thánh Phaolô không ngừng gọi các tín hữu Thêxalônica là ”anh chị em”. Thư gửi cho họ phát xuất từ tình yêu thương huynh đệ và diễn tả sự hiệp nhất huynh đệ ấy.
ĐỀ TÀI 28:NỘI DUNG PHẦN HAI THƯ THỨ I GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Đọc thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica chúng ta nhận ra ngay hai phần trong kết cấu và nội dung của thư. Phần thứ nhất gồm ba chương đầu gợi lại các kỷ niệm, mà thánh Phaolô đã có với tín hữu cộng đoàn và kể ra các lý do khiến thánh Phaolô vô vàn cảm tạ Thiên Chúa. Phần hai gồm hai chương 4-5 chứa đựng các lời khuyên nhủ, khuyến khích, cảnh cáo và răn bảo tín hữu. Có thể chia phần hai thành bốn đoạn. Đoạn nhất bao gồm các lời khuyên tín hữu sống thánh thiện và yêu thương nhau (4,1-12). Đoạn hai là giáo lý liên quan tới số phận của những người đã chết và lời khuyến khích của thánh Phaolô (4,13-18). Đoạn ba lại đề cập tới ngày sau hết và lời thánh Phaolô khuyên tín hữu tỉnh thức sẵn sàng đón chờ ngày Chúa Kitô quang lâm (5,1-11) Đoạn bốn gồm các lời khuyên nhủ tổng quát (5,12-22). Sau cùng trước lời kết (5,25-28) có lời nguyện xin Thiên Chúa giữ gìn tín hữu Thêxalônica được toàn vẹn trong ngày cánh chung (5,23-24).
Sau khi bầy tỏ nỗi vui mừng khôn tả, vì biết tín hữu Thêxalônica dù gặp biết bao gian lao thử thách, đã không suy giảm lòng tin mà còn kiên trì sốt sắng vững mạnh hơn nữa, đến nổi tiếng trong cả nước Hy Lạp, thánh Phaolô khuyến khích họ cứ tiếp tục lớn mạnh trong lòng Tin, lòng Cậy và lòng Mến. Ngài viết trong đầu chương 4: ”Còn lại, thưa anh chị em, đây là các yêu cầu và khuyến khích của chúng tôi trong Chúa Giêsu: Anh chị em đã học biết từ chúng tôi phải hành xử thế nào để đẹp lòng Chúa, và anh chị em đang sống như vậy. Hãy tiến tới hơn nữa! Thật thế, anh chị em biết các huấn thị, mà chúng tôi đã đưa ra cho anh chị em nhân danh Chúa Giêsu. Ý Thiên Chúa muốn: đó là anh chị em hãy sống trong sự thánh thiện và xa lánh dâm ô. Mỗi người hãy làm chủ bản thân mình để sống trong thánh thiện và danh dự, mà không để cho mình sống buông thả theo sự thèm khát như người ngoại giáo không biết Chúa thường làm. Đừng có ai gây thiệt hại cho tha nhân và lường gạt người khác về điều này”.
Nếu dịch sát nghĩa câu 4 của chương 4 sẽ là: ”Ước chi mỗi người trong anh chị em hãy biết sắm cho mình một cái bình trong sự thánh thiện và trong danh dự”. Từ ”skeuos” trong tiếng hy lạp có nghĩa là đồ dùng, hay cái bình. Đó là một hình ảnh người hy lạp thường dùng để diễn tả ”thân xác” con người. Thân xác là cái bình chứa đựng linh hồn. Trong chương 4,7 thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô thánh Phaolô khẳng định với mọi người rằng Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng cứu độ của Chúa là một kho tàng mà các vị truyền giáo chứa đựng trong các bình bằng đất sét. Nhưng như thế là để Thiên Chúa tỏ lộ quyền năng vô song của Ngài trong hoạt động thừa tác của các vị, chứ không do sức lực hay tài cán của các vị. ”Bình băng đất sét” là hình ảnh có thể ám chỉ sự giòn mỏng yếu hèn của chính thánh Phaolô (2 Cr 12,7-10; Gl 4,14) và của các cộng sự viên. Nhưng cũng có thể ám chỉ thân xác bằng đất sét của con người như tả trong sách Sáng Thế chương 2,7, và được thánh Phaolô nhắc tới trong thư gửi tín hữu Roma chương 9,21-23, thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô chương 15,47 và ở đây. Thân xác như cái bình bằng đất sét vừa diễn tả sự giòn mỏng dễ vỡ, vừa ám chỉ bản tính yếu đuối bất toàn của con người trong mọi bình diện cuộc sống của nó: cuộc sống tâm sinh vật thể lý cũng như cuộc sống tinh thần. Vì là cái bình bằng đất sét, nên con người đau yếu, vỡ nát, sứt mẻ, tan rữa đi. Như thế nếu hiểu cái bình ở trong câu 4 chương 4 thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica là thân xác, thì dịch là ”mỗi người hãy chiếm đoạt thân xác của chính mình, nghĩa là hãy chế ngự, hãy làm chủ được thân xác mình”, đừng để cho nó sống lăng loàn trác táng, ăn chơi buông thả dâm dật.
Tuy nhiên cũng có thể dịch câu trên theo một nghĩa khác. Trong môi trường xã hội sêmít, người vợ được nam giới coi như là thịt xác hay thân xác của chính mình, như viết trong sách Sáng Thế chương 2,23. Khi thấy người nữ, người nam nói: ”Lần này, nàng là thịt từ thịt tôi, xương từ xương tôi. Người ta sẽ gọi nàng là đàn bà, vì nàng được lấy ra từ đàn ông”. Như thế kiểu nói ”mỗi người hãy sắm cho mình một cái bình” có nghĩa là mỗi người hãy lấy vợ (1 Cr 7,2), hãy lập gia đình, để sống trong sự thánh thiện và danh dự của cuộc sống hôn nhân và tính dục, chứ đừng buông thả dâm ô theo lòng ham muốn của mình (1 Cr 7). Hôn nhân giúp kitô hữu sống niềm tin thánh thiện và sự tùy thuộc của mình vào Thiên Chúa. Giữa một môi trường ngoại giáo, đối với nam giới theo kitô giáo, việc chọn lựa cho mình một người vợ là vấn đề quan trọng thánh Phaolô không thể bỏ qua không nhắc tới. Nó thuộc bổn phận khuyên bảo và dậy dỗ tín hữu của ngài.
Và thực vậy, trong phần hai thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica thánh Phaolô không ngừng nhắc họ đừng quên các giáo huấn mà ngài và các cộng sự viên đã giảng giải cho họ, khi còn ở bên họ. Phaolô khuyến khích tín hữu sống theo tinh thần Tin Mừng của Chúa. Vì ai từ bỏ các huấn thị này thì không phải họ chối bỏ con người, mà chối bỏ Thiên Chúa, là Đấng trao ban Thánh Thần cho họ (4,8). Liên quan tới tình yêu thương huynh đệ như lệnh Chúa truyền dậy, thánh Phaolô nói ngài không cần phải viết cho họ nữa, vì chính họ đã học biết từ Thiên Chúa, và thực sự là họ đang thực thi giáo huấn yêu thương đó đối với mọi tín hữu trong toàn vùng Maceđonia. Và thánh Phaolô thôi thúc họ hãy cố gắng có các tiến bộ mới trong lãnh vực này: ”Anh chị em, chúng tôi khuyến khích anh chị em hãy có các tiến bộ mới”(4,10). Tiếp đến thánh nhân khuyên ai nấy hãy biết sống bình tĩnh không nôn nóng ch
Users browsing this forum: No registered users and 0 guests
You cannot post new topics in this forum You cannot reply to topics in this forum You cannot edit your posts in this forum You cannot delete your posts in this forum You cannot post attachments in this forum